PHẦN THIÊN CAN CỦA NAM
CHŨ
BÍNH
CHỮ GIÁP
Trai Giáp lấy vợ tuổi Tý
“Chính quế thiềm cung - hoàn nhập tại võng”
Nghĩa là: Bẻ quế nơi cung thiềm vợ chồng
vui đẹp có quyền thế về tư pháp, nhưng thiếu âm đức con cháu về sau bị lọt vào
lưới và tai vạ.
Trai
Giáp lấy vợ tuổi Sửu và Dần
“Vũ chiết hoa tiêu - Vân trinh thất lộ”
Nghĩa là: Mưa gẫy cành hoa - đường mây lạc
lối. Không được tốt, lấy nhau rồi có nhiều rời đổi, con cái không được hiếu
thuận lại khó nuôi. Làm quan bị giáng, đi thi không đậu.
Trai
Giáp lấy vợ tuổi Mão
“Thu phong lạc điệp - phu thê ly biệt”
Nghĩa là: Rất xấu, gió thu lá rụng, vợ
chồng khó ở đời. Sinh con khó nuôi, có thai sinh bệnh hoạn v.v…
Trai
Giáp lấy vợ tuổi Thìn và Tỵ
“Thu vụ hung sơn - phú quý phù vần”
Nghĩa là: Như mây mù mùa thu bao trùm núi
cao. Giàu có như mây bay nước chảy, không tốt - lấy nhau không bền…
Trai
Giáp lấy vợ tuổi Ngọ
“Trường Sa chiết trụ - ngộ tai nan giải”
Nghĩa là: Xe to gẫy trục gặp nạn khó giải
trước sau khổ, 42 tuổi gặp nạn nguỵ, không có đức, có thể chết.
Trai
Giáp lấy vợ tuổi Mùi
“Long phi vô vũ - thới quan tán tài”
Nghĩa là: Làm quan bị giảng. Rồng bay mà
thiếu mưa, hao tán tiền tài, gặp nhiều sự rủi, con cái khổ lây.
Trai
Giáp lấy vợ tuổi Dậu và Tuất
“Chiết quế thiềm cung - huỳnh long xuất
hiện”
Nghĩa là: Bẻ quế cung thiềm, rồng vàng hiện
tới. Thi đậu cao vợ đẹp, con ngoan, công danh đắc lợi, tài lộc dồi dào.
Trai
Giáp lấy vợ tuổi Hợi
“Nguyệt quế vọng thềm - tiền vinh hậu nhục”
Nghĩa là: Đứng bên thềm ngó lên cung trăng
trước, tốt đẹp sau hư hại, thi cử đỗ đạt, vợ cũng xinh đẹp, nhưng công danh nửa
đường về sau bị tai ách.
CHỮ ẤT
Trai
Ất lấy vợ tuổi Tý
“Long hổ tự phục - sanh khuyển đầu trúc”
Nghĩa là: Rồng cọp đều quy đầu chó tre là
công danh đắc lộ, con cái phát đạt, công danh có nhưng tài lộc kém.
Trai
Ất lấy vợ tuổi Sửu và Dần
“Nhựt nguyệt đương nhiên - hoa khai ngộ
tuyết”
Nghĩa là: Như mặt trời, mặt trăng giữa trời, hoa nở gặp tuyết mưa xuống.
Thi cũng đỗ đạt. Trước thì danh vọng lớn lao sau thì gian nan cay đắng, con cái
một nửa khá, một nửa bần hàn. Hoa nở bị tuyết rơi thì rụng hết chứ không còn.
Trai
Ất lấy vợ tuổi Mão
“Liễu ngộ xuân phong - phượng hoàng chết
dục”
Nghĩa là: Cây liễu gặp ngọn gió đông, chim
phượng hoàng gãy cánh. Mới lấy nhau vợ chồng phát đạt nhưng kém về con. Bằng có
con thì tài giảm, tiên thành hậu bại có khi gãy cánh giữa đường.
Trai
Ất lấy vợ tuổi Ngọ
“Thiên địa vô số - bối minh diện ám”
Nghĩa là: Trời đất không mưa sau lưng sáng
trước mặt tối, trai goá gái goá lấy nhau phát đạt cực mau. Nếu là đôi lứa thiếu
niên cũng gọi là tốt nhưng về sau có chuyện buồn khổ trong phòng khuê, dẫu có
danh vọng cũng mang hoạn nạn.
Trai
Ất lấy vợ tuổi Mùi
“Ngư quá vũ môn – long phi đắc chí”
Nghĩa là: Cá vượt vũ môn, rồng mây gặp hội,
vợ chồng hoà hợp, phú quý song toàn, rể quý dâu hiền thật tốt.
Trai
Ất lấy vợ tuổi Thân
“Long vân đắc lộ - khủng ngộ kiếp hình”
Nghĩa là: Rồng tuy gặp vận nhưng e bị cướp
bóc hình sát, vợ chồng tuy phát đạt nhưng mọi công việc đều không bền.
Trai
Ất lấy vợ tuổi Dậu
“Điểu nhập võng chung - bạch mã chiết túc”
Nghĩa là: Chim vào trong lưới, ngựa trắng
què chân. Nếu thi đỗ cao tức phải chết non, trước hiển vinh thì sau khổ. Lúc
trẻ gian nan thì sau về già thư thả hơn.
Trai
Ất lấy vợ tuổi Tuất và Hợi
“Nguyệt trầm thương hải – long khổn hồng
vân”
Nghĩa là: Trăng chìm biển thẳm, rồng bị vây
trong đám mây hồng. Tu phận thủ thường cực khổ lúc trẻ thì được yên vui lúc
già. Nếu thi đỗ tất chết non, con cái công danh cũng trắc trở.
Trai
Bính lấy vợ tuổi Tý
“Hồng hoa lạc địa – Niên thư thọ lão”
Nghĩa là: Hoa hồng rơi đầy đất, lúc trẻ bôn
tẩu nhiều thì thọ cao, vợ sinh sản khó, có khi nguy mạng, sanh con trai nhiều
thì hợp, sanh con gái khó nuôi, nếu không có thiếp cũng có con trai.
Trai
Bính lấy vợ tuổi Sửu
“Long tàng hải đế - Nhân hữu minh linh”
Nghĩa là: Rồng còn giấu mình dưới đáy bể có
nhân thì cũng được con nuôi… vất vả mãi nhưng khó có dịp bay nhảy, khó được
công danh. Con cái khó nuôi, tìm con nuôi cũng tốt, về già cũng được an nhàn.
Trai
Bính lấy vợ tuổi Dần
“Oanh yến phùng xuân - thì cũng hảo hiệp”
Nghĩa là: Chim oanh, chim én gặp mùa xuân,
vợ đẹp con ngoan hoà hiệp. Lúc đầu có điều cách trở sau tái hợp mới nên. Con nuôi cũng tốt, về
già cũng được an nhàn.
Trai
Bính lấy vợ tuổi Mão và Thìn
“Ngự nhập vòng trang – quan tài khốn tử”
Nghĩa là: Cá lọt vào lưới thân gặp quan sự
khốn đốn vợ con. Rất xấu, nhiều cách trở có thể tử biệt sinh ly, con cái không
đỗ đạt.
Trai
Bính lấy vợ tuổi Tỵ
“Càn đạo hành chu – Tài bật phong nhiêu”
Nghĩa là: Thuyền đi trên hướng cung càn,
chở tiền của đầy ăm ắp. Vợ là con nhà danh vọng hơn chồng, nên cưới con gái
trưởng mới tốt. Dầu thi cử không đỗ nhưng làm ăn phát đạt, con cái làm nên danh
vọng về sau.
Trai
Bính lấy vợ tuổi Ngọ và Mùi
“Non thao phùng xuân - Khuất ty nhập thuỷ”
Nghĩa là: Cỏ non gặp mùa xuân tươi xanh được
vào nước. Vợ chồng gặp nhau trong cảnh hàn vi thì sau mới phát đạt. 40 tuổi trở
lên mình có tiểu tật nhưng con cái đỗ đạt cao.
Trai
Bính lấy vợ tuổi Thân
“Khổ mộc phùng xuân - tiền tổn hậu ích”
Nghĩa là: Cây khô gặp mùa xuân trước hại
sau lợi, trước cực giàu sang, làm ăn tằn tiền mà giàu có lớn. Sinh con cái học hành
giỏi thi đậu cao.
Trai
Bính lấy vợ tuổi Dậu
“Tử tôn hưng vượng - phú quý miên trường”
Nghĩa là: Con cái khá giả giàu sang lâu dài lúc
đầu có trắc trở sau hợp sanh trai gái đầy đàn thi cử đỗ đạt phước lộc lâu dài.
Trai Bính lấy vợ tuổi Tuất - Hợi
“Oanh yến nan hoà - hữu tử nan dưỡng”
Nghĩa là: Chim oanh chim yến khó hoà, có
con nuôi, trai gái đầu là con một hay con mồ côi thì tốt. Còn bằng đủ cha mẹ
thì người con trai phải có danh vọng hơn. Sanh con cái khó nuôi trước thành sau
bại.
CHỮ ĐINH
Trai
Đinh lấy vợ tuổi Tý
‘’Mãnh Hổ lạc tình - đặc long diếu câu’’
Nghĩa là : Cọp lọt giếng sâu rộng vướng
lưỡi câu : Vợ chồng phát đạt gặp nhau tuy dễ, nhưng không được bền lâu, đến lúc
tử biệt chồng chết trước vợ. Con cháu về sau gặp tai ách liên miên.
Trai
Đinh lấy vợ tuổi Dần-Sửu
"Cánh phá châm phân - hoa tàn bình tán"
Nghĩa là : Bình rơi gương vỡ trâm gãy hoa
tàn. Vợ chồng gặp nhau suy bại lần lần. Hữu sanh vô dưỡng, chung cuộc sẽ đi đến
chỗ kẻ còn người mất.
Trai
Đinh lấy vợ tuổi Mão
“Đào nguyên yến hội - viết tự khai hoa”
Nghĩa là : Tình duyên vui đẹp, con cái đầy
đàn, học hành đỗ đạt. Trung niên gặp hạn xấu, có đưa con trai yểu vong, tuổi
già đứa con bỏ đi rồi sau trở về sum hợp mẹ cha.
Trai
Đinh lấy vợ tuổi Thìn và Tỵ
“Bàng điểu ngộ xuân - tài bạch thiên hào”
Nghĩa là : Chim đài bàng chim điểu là loại
chim hải điểu cực lớn khi gặp mùa xuân đôi cánh chuyển động đủ gây sóng gió,
tiền bạc dồi dào lấy nhau đại phát như được hoạch tài con cái đỗ cao, nối
nghiệp giàu lâu bền.
Trai
Đinh lấy vợ tuổi Ngọ và Mùi
“Song hoa phát giác - minh hiện chủ nhân “
Nghĩa là : Hai cành hoa đều tỏ rõ trước mặt
chủ nhân ông. Vợ chồng trước có trắc trở rồi mới gặp nhau, khó nuôi con, cần
tìm con nuôi mới yên vui gia đình hoặc có con rơi bên ngoài đem về nuôi thì đại
phát, rất có hiếu thảo, học hành đỗ đạt, phước lộc song toàn.
Trai
Đinh lấy vợ tuổi Dậu và Thân
“Dũng hổ uy quyền - tướng soái thiên vạn”
Nghĩa là : Quyền oai như cọp mạnh, phong
tướng soái chấp chưởng muôn quân. Vợ chồng tạo phát, tạo thành công danh rạng
rỡ, con cái vui học hành đỗ đạt. Nhưng đến tuổi già lại lâm đại nạn như một lão
tướng da ngựa bọc thây ngoài trận địa.
Trai
Đinh lấy vợ tuổi Tuất và Hợi
“Trúc thuyền ngộ phong - ngư cử hải lăng”
Nghĩa là: Thuyền tre thuyền nan gặp gió như
cá vượt sóng to, tuổi vợ chồng gặp nhau như thuyền nhẹ gặp gió xuôi thuận một
lèo như cá nhảy trên đầu sóng, phu hiển thê minh, con cái đỗ đạt.
CHỮ MẬU
Trai
Mậu lấy vợ tuổi Tý, Sửu và Dần
“ Minh châu hiển thoại - thiết thọ hoa
khai”
Nghĩa là : Được ngọc minh châu là được mọi điều
lành, cây sắp trổ hoa đại kiết xương, vợ chồng phối hợp vừa sắc vừa tài. Trai
có danh gái có hạnh, sinh con cái khôn ngoan tuấn tú, thi cử đỗ đạt. Riêng tuổi
Sửu và Dần thì về già chồng bị tiểu tật nhưng vô hại.
Trai
Mậu lấy vợ tuổi Mão
“Ngư du điểm ngạch - hữu tử cách trở ‘’
Nghĩa là : Cá lội đụng đầu, có con cách
trở. Vợ chồng gặp nhau ở nơi xứ lạ quê người thì được. Nếu cùng chỗ đồng hương
thì bần cùng cơ khổ, có con khó nuôi, nuôi được lớn lên thì cũng ly biệt. Nên
đi xa xứ lập nghiệp về già mới được yên vui.
Trai
Mậu lấy vợ tuổi Thìn
“Ngọc xuất côn sơn – vinh nhục bất toàn”
Nghĩa là : Núi côn sơn có ngọc, sự vinh
nhục không đều. Vợ chồng gặp nhau trước khổ, sau sang. Tiền bần hậu phú, thì
trước rớt sau đâu. Đường công danh gặp may con cháu đông đủ.
Trai
Mậu lấy vợ tuổi Tỵ và Ngọ
“Minh châu biến hắc sắc - nữ tử ngoại gian”
Nghĩa là : Ngọc sáng hoá đen, gái sinh gian
ý, vợ chồng tương xứng, gái sắc trai tài. Công danh đắc lợi, sanh con trai đầu
lòng, nhưng sau nếu sanh con gái không được đầm ấm.
Trai
Mậu lấy vợ tuổi Mùi và Thân
“Lễ thánh triều thiên - nam nữ thịnh
vượng‘’
Nghĩa là : Lễ trời lạy thánh vợ chồng con
cái vui đẹp. Đẹp đôi số phu thuận thê hoà. Phúc quý đều đều con cháu đời đời
nối dõi.
Trai
Mậu lấy vợ tuổi Dậu
“Cầm sắc tục huyền - tái thủ sanh nam”
Nghĩa là : Đầu phải nối dây sinh trai nối
dõi, vợ chồng sinh ly tử biệt. Lần sau hoặc có thê hầu thiếp mới có con trai.
Trai
Mậu lấy vợ tuổi Tuất và Hợi
“Nguyệt đầu hạ thuỷ - ngộ sát Giang hà”
Nghĩa là: Trăng chim đáy nước dễ nguy trên
sông biển. Vợ chồng vui đẹp đầy vẻ phong lưu, nhưng chỉ có sự rực rỡ bên ngoài,
còn bên trong thì mang nhiều cay đắng. Gặp hoạn nạn, trộm cướp trên đường sông
biển. Nếu cưới nhau ở xứ lạ quê người thì tốt.
CHỮ Kỷ
Trai
Kỷ lấy vợ tuổi Tý
“Nông trang điền canh - đại lộc tam cốc”
Nghĩa là : Ruộng vườn cày cấy có lời về lúa
thóc tằm dâu. Vợ chồng cực giàu sang hợp với chăn nuôi trồng trọt cần cù mà
giàu, con cái khá giả.
Trai
Kỷ lấy vợ tuổi Sửu
“Khô mộc sanh hoa tàn sao nhi khứ”
Nghĩa là: Cây khô trổ bông. Nên rời bỏ quê
hương lập nghiệp xứ khác hoặc về quê vợ, tuy có sanh nhưng khó nuôi con.
Trai
Kỷ lấy vợ tuổi Dần và Mão
“Thê tử hào hiệp - hoa lệ đường hoàng”
Nghĩa là : Vợ đẹp con ngoan, nhà cửa vui
đẹp. Có vợ rồi lại có tiếp vợ kế. Sanh toàn con trai không có con gái. Nên rời
quê hương làm ăn phát đạt, con đổ cao khoa.
Trai
Kỷ lấy vợ tuổi Thìn và Tỵ
“Khứ cực sanh tâm - quần âm sáo tận”
Nghĩa là : Thay cũ đổi mới, vợ chồng gặp
nhiều trắc trở, thương yêu mấy cũng chịu
xa lìa. Trước tan sau hiệp, nhưng cũng hiếm con vì chỗ chôn mồ mả của tổ tiên
âm đức đã hết, phải tìm con nuôi, cầu may cũng khá.
Trai
Kỷ lấy vợ tuổi Ngọ
“Tẩu mã trường thành – nhựt nguyệt đương
thiên”
Nghĩa là: Nghĩa là giục ngựa tràng thành
mặt trời mặt trăng sáng chói. Đời trước không thành bỏ sang xứ khác, tái lập
gia đình sanh con đỗ đạt, danh lợi đều rực rỡ hơn người.
Trai
Kỷ lấy vợ tuổi Mùi và Thân
“Tán thuyền hạ thuỷ - niên đại vinh xương”
Nghĩa là: Thuyền mới vừa cho xuống nước,
đời đời được hưởng sang giàu. Vợ chồng xứng đôi phải vai vừa lứa - gái tân.
Sinh con cái thông mnh thì đỗ đạt phước thọ lâu dài.
Trai
Kỷ lấy vợ tuổi Dậu
“Thuỷ hoả tương xứng - phu thê ly biệt”
Nghĩa là: Nước lửa xung khắc, vợ chồng chia
lìa. Tuy ăn ở có con cái với nhau song bị goá buạ. Nếu vợ không bỏ đi thì chồng
cũng mạng yểu.
Trai
Kỷ lấy vợ tuổi Tuất
“Nhựt lạc hoàng hôn – đốt tài tự bại”
Nghĩa là: Mặt trời ngả bóng chiều, tiền hết
thân hư! Nếu sanh hợp mùa, cưới gả đúng ngày giờ tốt thì chồng suy yếu nhưng
vẫn còn sống thọ về sau nhờ con cũng đặng yên vui.
Trai
Kỷ lấy vợ tuổi Hợi
“Thần tiên giáng hạ - nhật lạc tây thiên”
Nghĩa là: Thần tiên xuống trần chiều nắng
tắt. Vợ chồng hoà hợp, cư xử mỗi ngày mỗi mới. Hết ngày tới đêm, đêm sáng lại
ngày. Con cái thông tuệ, trai đỗ cao, con gái có duyên làm rạng rỡ tổ tông, nhờ
dâu hiền rể thảo.
CHỮ CANH
Trai
Canh lấy vợ tuổi Tý và Sửu, Dần
“Châu huyền khai môn - thiên địa tuyệt khi”
Nghĩa là: Cửa châu huyền đều mở, hai khí âm
dương đã hết. Sanh đúng thời cưới đúng thời sẽ có con trai. Nếu trái lại chỉ có
1 người con học hành khá thi đỗ cao mà thôi.
Trai
Canh lấy vợ tuổi Mão
“Thiết thuyền độ hải - chủ tử bất ách”
Nghĩa là: Thuyền sắt vượt biển, chết không
tai ách, đó là sự bền vững kiên cố. Vợ chồng gặp nhau đầu có gian khổ nhưng sau
giầu sang sung sướng, con cái hiển vinh.
Trai Canh lấy vợ tuổi Thìn, Tỵ
"Vân
thê thất lộ - đại tán kỷ hung"
Nghĩa là: Thang mây đã mất, mọi sự hung dữ đều đem chôn cả. Dù thi rớt lấy
vợ cũng làm nên và thi đỗ. Con trai sanh nhiều học giỏi đỗ cao, sau già góa vợ.
Trai canh lấy vợ tuổi Ngọ
"Mã
đạp trường thành - phú quý vô hạn"
Nghĩa là: Ngựa vượt trường thành, giàu sang không có hạn định. Thi đỗ cao
lấy vợ giàu sang vô địch. Đó là sanh thời thuận, khắc thì phòng khuê có sự đau
buồn, có sự lỡ dở cả sự nghiệp.
Trai
Canh lấy vợ tuổi Mùi và Thân
“Nhạn phùng phong – én lãnh phân đội”
Nghĩa là: Nhạn mùa thu gặp gió, chim én
trên núi cao chia đàn mà bay. Lấy nhau đại phát, con cái khá đông, nhưng sau
phải chịu góa vợ, chồng. Con hai dòng đều hiếu thảo.
Trai
canh lấy vợ tuổi Dậu
“ Cảnh phá châm phân – tiền hiệp hậu đoạn”
Kim gãy gương tan, trước hiệp sau lìa. Lấy
nhau dẫu có phát đạt nhất thời, về sau cũng sinh ly tử biệt, con cái bần lạc,
phiêu linh khổ sở.
Trai
Canh láy vợ tuổi Tuất và Hợi
“Phi điểu ngộ tiễn – tái thú sinh nữ”
Nghĩa là: Chim bay trúng tên, lấy vợ sau
sinh con gái. Đời vợ đầu sinh ly tử biệt, nếu để lại con trai thì làm nên. Lấy
vợ sau sinh con gái cũng hiếu thuận.
CHỮ TÂN
Trai Tân lấy vợ tuổi Tý
“Khổ mộc khai hoa - cảnh phá đào sanh”
Nghĩa là: Cây khô trổ bông, gương vỡ thì đào hoa xuất hiện. Lấy vợ sớm ắt
không làm nên lại sinh nở khó đến nguy mạng. Đời vợ sau con cái thành danh.
Trai Tân lấy vợ tuổi Sửu và Dần
“Thiên địa tuyệt khí - trung vô tử tức”
Khí âm dương hết, rốt cuộc không có con, vợ chồng lấy nhau bần khổ. Dẫu Gặp thời khá giả
cũng không bền, có con cũng hèn, về sau không có con dâu, hết phần hương hỏa.
Trai Tân lấy vợ tuổi Mão
"Trung
thiên nguyệt chiếu - ba đào tịnh lặng"
Nghĩa là: Trăng
sáng giữa ban ngày, sóng gió yên lặng. Vợ chồng lấy nhau trước nghèo sau giầu.
Con cái thông minh khéo léo thi cử đỗ đạt.
Trai Tân lấy vợ tuổi Thìn và Tỵ
"Long
khổn vô võ - điền tài miên miên"
Nghĩa là: Rồng
cạn thiếu mưa, thiếu con trai đầu, có cũng không học hành đỗ đạt. Tốt hào con
gái, tiền bạc ruộng vườn giàu có lâu bền.
Trai Tân lấy vợ tuổi Ngọ
"Nhập
hải tầm châu - khai hoa kết tử"
Nghĩa là: Xuống
biển tìm châu, hoa nở kết trái. Sanh con gái đông, nhưng con trai là quý tử
thông minh thi đậu khoa cao.
Trai Tân lấy vợ tuổi Mùi và Thân
"Niên
ngọ phong tật hữu tử nan dưỡng"
Nghĩa là: Năm gặp bệnh tật sanh con khó nuôi trước
sướng sau khổ, nếu mồ côi mẹ cha cả lấy nhau rất hợp, tuy vậy con cái cũng ít
phước thì khó đậu lại có bệnh tật khó nuôi.
Trai Tân lấy vợ tuổi Dậu
"Tung
hoành đắc chí - hữu tử nan thành"
Nghĩa là:
Dọc ngang tung hoành, sanh con khổ tới trưởng thành. Cụ tổ 4 đời là người có
thanh danh nhưng đến con cháu sau âm đức suy giảm. Trai có một lần vợ, gái có 1
lần chồng hoặc gặp gỡ nhau trước khi cưới thì hợp. Tuy vậy sau cũng không bền,
có con khó nuôi làm ăn may rủi không chừng.
Trai Tân lấy vợ tuổi Tuất và Hợi
"Phu
thê phán mục - nhựt lạc tây thiên"
Nghĩa là: Vợ
chồng thù nghịch, mặt trời xế non tây. Vợ sanh đẻ khó đạt. Đời vợ sau mới ăn ở
đến già.
CHỮ NHÂM
Trai
Nhâm lấy vợ tuổi Tý
“Huề thú tại võng – quan pháp tại tụng”
Nghĩa là: Dắt tay vào lưới - gặp gian tai
kiện tụng
Lấy nhau không hợp, hay có bệnh hoạn, thưa
kiện lôi thôi. Nếu vợ mạnh mẽ thì e có điều đau buồn chốn phòng khuê. Dẫu có
con cũng không sang cả.
Trai
Nhâm lấy vợ tuổi sửu
“Vũ dã hoa tiêu – vân trình thất lộ”
Nghĩa là: Mưa dầm hoa rụng, mất lối công
danh. Làm ăn cũng khá giả,vui vẻ. Nhưng con cái không được hưởng hạnh phúc lâu
bền, hiếm con gái, nhiều con trai, có thi làm quan cũng mất chức.
Trai
Nhâm lấy vợ tuổi Dần Mão
“Thu sương lạc diệp – ngoại hữu chủ nhân”
Nghĩa là: Sương thu rơi trên lá, bên ngoài còn có chủ nhân ông.
Tuy làm ăn khá, sanh con cái đông, nhưng
không nên danh vọng gì. Vợ chồng thường nghi kị lẫn nhau.
Trai
Nhâm lấy vợ tuổi Thìn
“Thu vũ lung sơn – Phú quý phù vân”
Nghĩa là: Mưa thu trên núi, giầu sang như
mây trôi. Lấy nhau những năm đầu làm ăn phát đạt, nhưng sau lụi dần, càng già
càng lắm bệnh tật, con cái cũng khó nuôi.
Trai
Nhâm lấy vợ tuổi Tỵ và Ngọ
“Trường xa chiết trụ - bán lộ ngộ tai”
Nghĩa là: Xe lớn gẫy trục, giữa đường gặp
tai nạn. Tới thời trung niên kẻ còn người mất. Lấy nhau lúc đầu phát đạt, có
con thi đỗ. Vợ sau mới ăn ở đến già
Trai
Nhâm lấy vợ tuổi Mùi
"Âm dương bất giao, nhơn khẩu bất miên"
Nghĩa
là: Trời không thuận , người không vừa. Lấy nhau không hợp, đường sinh bất
trắc. Nếu có con học hành cũng khá nhưng về sau cũng bệnh tật rủi ro, không
được hưởng lâu dài.
Trai
Nhâm lấy vợ tuổi Thân
"Vân lộ thất trình - Cầu sự bất thành"
Nghĩa là: Đường mây lạc hướng, mọi việc đều
khó. Lấy nhau tuy con cái đông làm ăn khá nhưng không bền, giàu thì ốm đau, làm
quan bị giáng chức. Nếu lấy nhau ở xứ xa hay trai đã có một đời vợ thì tốt.
Trai
Nhâm lấy vợ tuổi Dậu
"Hành lộ ngộ phong, cầu tài bất
lợi"
Nghĩa là: Đường đi gặp gió ngược, cầu tài
không có, nguy hại vô cùng lấy nhau khổ, làm ăn vất vả, sanh con không nuôi
được.
Trai
Nhâm lấy vợ tuổi Tuất và Hợi
"Chiết quế thiềm cung - Huỳnh long
xuất hiện"
Nghĩa là: Trai gái đẹp duyên, môn đăng hậu
đối, âm đức vượng, tương sinh trai gái hiền, đỗ đạt cao khoa, vinh hiển lâu
dài.
CHỮ QUÝ
Trai
Quý lấy vợ tuổi Tý
"Long triều hổ phục, khuyển đầu sanh
trúc"
Nghĩa là: Rồng chầu cọp núp. Đầu chó sanh hoa
tre. Trường thọ mà phú quý, nếu lấy nhau mà ở xa quê hương thì con cháu đều đại
tiến, phúc lộc đời đời.
Trai
Quý lấy vợ tuổi Sửu và Dần
"Nhựt nguyệt đương nhiên - hoa khai ngộ
tuyết"
Nghĩa
là: Nên lấy vợ xa quê hương làm ăn phát đạt, học hành thi đỗ, sanh con cái đẹp
thông minh thi đậu khoa cao, có rể hiếu dâu quý.
Trai
Quý lấy vợ tuổi Mão
"Đào liễu phùng xuân - phụng hoàng
chuyển dục"
Nghĩa là: Đào liễu gặp gió xuân, chim
phượng hoàng đang mở rộng cánh bay cao. Người xanh mùa xuân hợp số lấy nhau ở
xa quê hương đại phát, nhưng không bền, e chốn phòng khuê có điều sầu khổ có
thể xa lìa nhau.
Trai
Quý lấy vợ tuổi Thìn, Tỵ
"Tục dung thành tiên - Đào nguyên yến
hội"
Nghĩa là: Người tục nên tiên, vào động đào
nguyên hội yếu. Nếu hai người cùng là con mồ côi thì đại quý cách. Vợ chồng
phát đạt sớm, con gái ngoan đẹp, thuận hoà, vui vẻ, chung tình hưởng phước đến
già.
Trai
Quý lấy vợ tuổi Ngọ
"Nhựt nguyệt tinh quang - thiên địa vô
vũ"
Nghĩa là: Trời không có mưa, mặt nhựt
nguyệt trong sáng. Thiên địa hoà nhu phụ thành. Trồng trọt chăn nuôi phát lớn.
Sanh con cái thông minh phát đạt. Tuổi gái Giáp Ngọ lấy trai Quý Hợi là cực
tốt.
Trai
Quý lấy vợ tuổi Mùi và Thân
"Ngư quá vũ môn - Long thành đắc
chí"
Nghĩa là: Cá vượt vũ môn, Rồng uốn lên mây.
Rất tốt. Vợ chồng hoà thuận gặp dịp may. Sinh con hiếu thảo, thi đỗ đạt hưởng
phước lộc bền lâu.
Trai
Quý lấy vợ tuổi Dậu
"Điểu nhập võng trung - Liệt mã chiết
túc"
Nghĩa là: Chim bị lọt lưới, ngựa mạnh què
chân. Lấy nhau vui đẹp nhưng phi bần tắc yểu. Nghèo thì được đỗ đạt, khá giả
thì yểu. Con cái thọ không được sáng sủa.
Trai
Quý lấy vợ tuổi Tuất và Hợi
"Nguyệt trầm thượng hải, long khổn vô
vũ"
Nghĩa là: Trăng chìm biển thắm, rồng khốn
vì mưa. Cưới gả xong phát lộc ít lâu rồi cũng suy hại. Thi đỗ thì chết yểu,
giàu lớn cũng giảm thọ, con cái không thông đạt.
Trên đây là trọn 12 con giáp trong mỗi tuổi
của nữ mạng so với 10 thiên can của nam mạng xem tốt xấu ra sao.
Sưu tầm
Xem tuổi vợ chồng (Phần II)
Cảm ơn Thanh Mai. Mình xin lưu lại đem về nghiên cứu kỹ hơn.
Trả lờiXóaXin mời!
XóaCái khoản xem tuổi em gái đại dốt
Cảm ơn chị gái đã sưu tầm
Chúc chị gái luôn vui khỏe (~_~)
Dựa vào ba bài này mà xem thì dễ thôi.
XóaCẢM ƠN TM CUNG CẤP TÀI LIỆU THAM KHẢO.CHÚC VẠN SỰ BÌNH AN.MẾN
Trả lờiXóahttp://3.bp.blogspot.com/-Aqqw4aWPYCo/USc6x0slz9I/AAAAAAAAAKo/Ih8hQ_UkHpQ/s1600/Hinh+dep+hoa+bong+oi+(10).jpg
Chúc mọi điều tốt lành!Xóa
sang thăm chị, đọc vận mạng của mình , chúc chị đêm bình an.
Trả lờiXóacảm ơn em!
XóaKhông hiểu vì sao hôm 21/7 G không thể nào tìm được lối vào com?
Trả lờiXóaThỉnh thoảng mạng lại bị như vậy!
XóaNhận xét này đã bị tác giả xóa.
Trả lờiXóa